Sáng kiến kinh nghiệm 2011-2012
I. Tên đề tài :
LỒNG GHÉP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG TRONG PHÂN MÔN
TẬP LÀM VĂN LỚP HAI
II. Đặt vấn đề :
1. Tầm quan trọng :
Trong thời đại mới, ngoài kiến thức và các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, tính toán và kĩ năng công nghệ, mỗi chúng ta rất cần được trang bị cho mình những kĩ năng sống để ngày càng hoàn thiện mình và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Có thể nói kĩ năng sống chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có kĩ năng sống phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách ; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp ; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của mình.
Giáo dục kĩ năng sống tức là giáo dục người học cách ứng xử, ứng phó với các tình huống trong cuộc sống là việc làm từ ngàn xưa cha ông ta đã quan tâm tới. Song xã hội hiện đại phức tạp hơn và xuất phát nhiều vấn đề khó giải quyết hơn. Vì vậy giáo dục kĩ năng sống cho người học một cách bài bản, hệ thống là yêu cầu cấp bách nhằm giảm thiểu những hành vi rủi ro đang ngày càng phổ biến trong xã hội. Tuy nhiên, giáo dục kĩ năng sống một cách chuyên biệt sẽ gặp nhiều khó khăn về thời gian. Chính vì vậy, lồng ghép kĩ năng sống trong quá trình giảng dạy là việc làm hợp lí trong điều kiện hiện nay.
2 Thực trạng trước khi áp dụng đề tài :
Năm học này, tôi được phân công giảng dạy lớp 2C ở thôn Triều Châu. Học sinh lớp tôi hầu hết là con của gia đình nông dân nghèo, họ ít có điều kiện quan tâm và giáo dục các em. Đa số các em còn rụt rè không mạnh dạn, ngại tiếp xúc. Trong giờ học phân môn Tập làm văn, các em ít tham gia phát biểu ý kiến, nếu có chăng thì cũng trả lời câu hỏi một cách cộc lốc không có đầu có đuôi. Qua theo dõi ban đầu, cả lớp có được khoảng 2 đến 3 em là hay tham gia phát biểu, số còn lại thì ngồi thụ động, có khi tôi bảo nhắc lại lời của bạn cũng nhắc lại không được. Từ đó đã làm ảnh hưởng đến chất lượng phân môn Tập làm văn của lớp tôi ở giai đoạn đầu.
* Kết quả kiểm tra định kì Giữa Học kì I (Phần Tập làm văn) như sau :
Đạt điểm tối đa (5 điểm) : 2 em – 9,5%
Điểm (4 điểm) : 4 em – 19,0%
Điểm (3 điểm) : 8 em – 38,1%
Điểm (Từ 2 trở xuống) : 7 em – 33,4%
3. Lí do chọn đề tài :
Để nhằm từng bước khắc phục những hạn chế trên và tạo điều kiện cho các em có được cơ hội tham gia vào quá trình học tập được tốt hơn, nên năm học này, tôi đã chọn đề tài : “Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong phân môn Tập làm văn lớp Hai.”
4. Giới hạn đề tài :
Trong phạm vi của đề tài này, tôi xin đúc kết những kinh nghiệm đã thực hiện trong phân môn Tập làm văn lớp Hai. Tôi đã lựa chọn những kĩ năng phù hợp để lồng ghép vào nội dung của từng bài Tập làm văn.
III. Cơ sở lí luận :
Thuật ngữ kĩ năng sống bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông Việt Nam từ năm 1995-1996 thông qua dự án “Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định là một trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013.
* Có nhiều quan niệm về kĩ năng sống :
- Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), kĩ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày.
- Theo Quỹ nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF), kĩ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng.
- Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), kĩ năng sống gắn với bốn trụ cột của giáo dục, đó là : Học để biết - Học làm người - Học để sống với người khác - Học để làm.
Từ những quan niệm trên, có thể nói rằng kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lí – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng có nhiều cơ hội trong thực tại. Kĩ năng sống đơn giản là tất cả điều cần thiết chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống.
Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tức là giúp các em ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội ; giúp học sinh hiểu biết về thể chất, tinh thần của bản thân mình để có hành vi, thói quen ứng xử có văn hóa, hiểu biết và chấp hành pháp luật.
IV. Cơ sở thực tiễn :
Chúng ta biết rằng học tập là một nhu cầu thường trực của con người trong mọi thời đại. Học tập không chỉ dừng lại ở các tri thức khoa học thuần túy mà còn được hiểu là mọi tri thức về thế giới trong đó có cả những mối quan hệ, cách thức ứng xử với môi trường sống xung quanh. Kĩ năng sống là một trong những vấn đề quan trọng đối với mỗi cá nhân trong quá trình tồn tại và phát triển. Chương trình học hiện nay đang gặp phải nhiều chỉ trích do quá nặng về kiến thức hàn lâm trong khi những tri thức vận dụng cho đời sống hằng ngày thì thiếu vắng. Hơn nữa, người học đang chịu nhiều áp lực về học tập khiến cho họ không còn nhiều thời gian tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội. Điều này đã dẫn đến sự “xung đột” giữa nhận thức, thái độ và hành vi với những vấn đề xảy ra trong cuộc sống.
Phân môn Tập làm văn lớp Hai, một mặt cũng đã rèn cho các em các kĩ năng nói, viết, nghe, đọc phục vụ cho việc học tập và giao tiếp. Mặt khác còn trao dồi thái độ ứng xử có văn hóa, tinh thần trách nhiệm trong công việc ; bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh, tốt đẹp qua nội dung bài dạy.
Nhưng qua thực tế dạy học phân môn Tập làm văn mấy tuần đầu ở lớp 2C, tôi nhận thấy đa số các em rất ngại tham gia vào các hoạt động học tập, nhiều em còn quá rụt rè không dám đứng lên nói trước lớp dù chỉ là những câu trả lời đơn giản.
Ví dụ : Bài Tự giới thiệu. (Tiếng Việt Tập 1 trang 12 – Tuần 1)
Bài tập 1 : Trả lời câu hỏi :
- Tên em là gì ?
- Quê em ở đâu ?
- Em học lớp nào, trường nào ?
- Em thích những môn học nào ?
- Em thích làm những việc gì ?
Bài tập này, tôi thấy câu hỏi đặt ra rất gần gũi với các em trong cuộc sống hằng ngày nên dễ trả lời. Thế nhưng cả lớp chỉ có em Vy là trả lời hoàn chỉnh cả năm ý đó ; em Hạnh, em Tâm, em Toàn, em Thành trả lời được ý một, ý hai và ý ba ; số còn lại các em chỉ trả lời được duy nhất ý đầu tiên.
* Hạn chế này, theo tôi là do :
+ Học sinh chưa có ý thức trau dồi.
+ Phụ huynh không quan tâm, cứ cho rằng việc giáo dục con em họ chủ yếu là ở nhà trường, nhà trường dạy như thế nào thì các em sẽ như thế đó còn phụ huynh không nhất thiết phải để ý đến.
+ Giáo viên thì còn nghiêng về trang bị kiến thức cho học sinh, có chú ý đến việc rèn kĩ năng nhưng chưa được sâu sát.
Để khắc phục những nhược điểm này, đòi hỏi người giáo viên phải thay đổi phương pháp dạy học tích cực, phải biết đưa việc giáo dục kĩ năng sống vào chính phân môn mình đang giảng dạy nhằm rèn cho các em kĩ năng sống, giúp các em có một niềm tin, phát triển một cách toàn diện để trở thành con người năng động, sáng tạo phù hợp với một xã hội hiện đại đang phát triển.
V. Nội dung nghiên cứu :
Chúng ta phải xác định dạy học sinh học môn Tập làm văn là giúp cho các em nói, viết lưu loát. Học sinh phát triển vốn từ ngữ, bồi dưỡng cảm xúc tình cảm lành mạnh trong sáng, khả năng lựa chọn sắp xếp ý rõ ràng, rèn khả năng tư duy, trí tưởng tượng phong phú. Qua đó vốn sống của các em được tăng lên giúp các em tự tin, có khả năng ứng xử trong cuộc sống. Để giúp cho học sinh có hứng thú học tập, phát hiện ra kĩ năng đó, tôi đã thực hiện một số biện pháp sau đây :
Biện pháp 1 : Nắm và hệ thống kiến thức Tập làm văn lớp Hai.
- Học sinh được học 31 tiết Tập làm văn trong cả năm học. Gồm các nội dung sau :
+ Các nghi thức lời nói tối thiểu (Chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi, nhờ cậy, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành, từ chối, chia vui, chia buồn,...) ; biết xử dụng chúng trong các tình huống giao tiếp nơi công cộng, ở gia đình, trong trường học.
+ Các kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày : Khai bản tự thuật ngắn, viết thư ngắn để nhắn tin, chia vui hoặc chia buồn, đọc và lập danh sách học sinh, tra mục lục sách, đọc thời khóa biểu, đọc và lập thời gian biểu,...
+ Nói, viết về vấn đề thuộc chủ điểm : Kể một sự việc đơn giản ; tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý : Bằng tranh, bằng câu hỏi,...
* Tất cả các nội dung này được rèn luyện qua hai hình thức chính là nói và viết. Ở mỗi hình thức luyện tập này, học sinh được hình thành dần kĩ năng tạo lập văn bản qua từng công đoạn, từ những yêu cầu đơn giản nhất như điền vào chỗ trống, trả lời câu hỏi đến nói hay viết một đoạn văn trọn vẹn
Ngoài ra, do quan niệm rằng tiếp thu văn bản cũng là một loại kĩ năng về văn bản cần được rèn luyện, cho nên trong các tiết Tập làm văn từ Học kì II trở đi, SGK tổ chức rèn luyện kĩ năng Nghe kể chuyện – trả lời câu hỏi theo nội dung câu chuyện.
Biện pháp 2 : Nghiên cứu tài liệu Giáo dục kĩ năng sống dành cho giáo viên tiểu học để lựa chọn nhóm kĩ năng sống phù hợp với nội dung từng bài học.
Qua nghiên cứu tài liệu và đối chiếu với nội dung giảng dạy phân môn Tập làm văn, tôi đã chia thành ba nhóm kĩ năng sau :
+ Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình bao gồm các kĩ năng cụ thể như sau : Tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin.
+ Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác, bao gồm các kĩ năng cụ thể như : Giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẩn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác.
+ Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, bao gồm các kĩ năng cụ thể như : Tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết đinh, giải quyết vấn đề.
Biện pháp 3 : Lồng ghép các kĩ năng sống cho phù hợp với nội dung của từng bài Tập làm văn
Phân môn Tập làm văn lớp Hai chứa đựng nhiều nội dung liên quan đến kĩ năng sống và có khả năng tích hợp giáo dục kĩ năng sống rất cao : Có nhiều bài học mà tên gọi của nó đã nói rõ mục tiêu giáo dục các kĩ năng giao tiếp xã hội như : Viết tự thuật, Lập danh sách học sinh, Lập thời gian biểu, Viết thiếp chúc mừng, Viết nhắn tin, ... Việc giáo dục kĩ năng sống trong môn Tập làm văn nhằm giúp học sinh bước đầu hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi, giúp các em nhận biết được những giá trị trong cuộc sống, biết tự nhìn nhận, biết đánh giá đúng về bản thân để tự tin, tự trọng và không ngừng vươn lên trong cuộc sống ; biết ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ với người thân, với cộng đồng và với môi trường tự nhiên ; biết sống tích cực, chủ động trong mọi hoàn cảnh.
Khả năng giáo dục kĩ năng sống của phân môn Tập làm văn không chỉ thể hiện ở nội dung môn học mà còn được thể hiện qua phương pháp dạy học của giáo viên. Để hình thành các kiến thức và rèn luyện kĩ năng mà chương trình phân môn Tập làm văn đặt ra với học sinh lớp Hai, tôi cần phải vận dụng nhiều phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh như : thực hành giao tiếp, trò chơi học tập, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp tổ chức hoạt động nhóm, phương pháp hỏi – đáp, v.v... Thông qua các hoạt động học tập, được phát huy trải nghiệm, rèn kĩ năng hợp tác, bày tỏ ý kiến cá nhân, đóng vai ... Học sinh có được cơ hội rèn luyện, thực hành nhiều kĩ năng sống cần thiết.
Ví dụ 1 : Bài Tự giới thiệu (Tiếng Việt Tập 1 trang 12)
* Các kĩ năng sống cơ bản được lồng ghép trong bài là :
+ Tự nhận thức về bản thân.
+ Giao tiếp : Cởi mở, tự tin trong giao tiếp, biết lắng nghe ý kiến người khác.
* Các phương pháp dạy học tích cực được sử dụng :
+ Học sinh sẽ làm việc theo nhóm đôi để trao đổi thông tin qua lại với bạn.
+ Học sinh biết lắng nghe phần giới thiệu của bạn để tự nói lại những điều mình biết về bạn.
Ví dụ 2 : Bài Kể ngắn theo tranh. Luyện tập về thời khóa biểu. (Tiếng Việt Tập 1 trang 62)
* Các kĩ năng sống cơ bản được lồng ghép là :
+ Thể hiện sự tự tin khi tham gia các hoạt động học tập.
+ Lắng nghe tích cực.
+ Quản lí thời gian.
* Các phương pháp dạy học tích cực được sử dụng :
+ Quan sát tranh để động não hình dung sơ bộ diễn biến câu chuyện.
+ Hợp tác với bạn để đóng vai.
Ví dụ 3 : Bài Kể về gia đình (Tiếng Việt Tập 1 trang 110).
* Các kĩ năng sống cơ bản được lồng ghép là :
+ Xác định được giá trị của gia đình mình.
+ Tự nhận thức về bản thân mình là thành viên trong gia đình.
+ Tư duy sáng tạo.
+ Thể hiện sự cảm thông.
* Các phương pháp dạy học tích cực được sử dụng :
+ Học sinh sẽ làm việc theo nhóm để kể cho nhau nghe về gia đình của mình.
+ Kể cho cả lớp nghe về gia đình của mình.+ Học sinh biết lắng nghe và cảm thông với những em có gia đình đông anh em mà bố mẹ đều làm ruộng.
Ví dụ 4 : Bài Đáp lời cảm ơn. (Tiếng Việt Tập 2 trang 30)
* Các kĩ năng sống cơ bản được lồng ghép là :
+ Giao tiếp : Ứng xử có văn hóa khi được người khác cảm ơn.
+ Tự nhận thức về bản thân mình đã làm được các việc đó chưa.
* Các phương pháp dạy học tích cực được sử dụng :
+ Hoàn tất một nhiệm vụ : Thực hành đáp lời cảm ơn theo tình huống cụ thể trong bài.
+ Tự nhận thức về bản thân mình phải đáp lại lời cảm ơn một cách lịch sự và có thái độ vui vẻ.
(Các bài còn lại, tôi đính kèm vào phần phụ lục)
Biện pháp 4 : Xây dựng các bài tập để truyền thụ kĩ năng sống đến với học sinh.
Nếu chỉ dừng lại ở việc dự kiến các kĩ năng sống và các phương pháp dạy học như ở biện pháp 3, thì đó mới chỉ là việc còn trong dự định, còn trong suy nghĩ của tôi cần phải thiết kế các bài tập, các trò chơi, các hoạt động cụ thể hơn để giúp học sinh chiếm lĩnh hoặc thực hành mỗi kĩ năng sống đó.
Ví dụ 1 : Kĩ thuật “Trải nghiệm” – “Thảo luận nhóm” – “Đóng vai”
Bài Chào hỏi – Tự giới thiệu. (Tiếng Việt Tập 1 trang 20)
* Tôi thực hiện phần giáo dục kĩ năng sống như sau :
Bài tập 1 : Sau khi nghe học sinh đọc yêu cầu của đề bài.
Nói lời của em :
+ Chào bố, mẹ để đi học.
+ Chào thầy, cô khi đến trường.
+ Chào bạn khi gặp nhau ở trường.
Mỗi em tự suy nghĩ (KT trải nghiệm) rồi tự nói trước lớp (KT trình bày 1 phút).
Cả lớp lắng nghe, nhận xét : Chào
kèm với lời nói, giọng nói, vẻ mặt)
như thế nào mới là người lịch sự có
văn hoá :
+ Chào mẹ để đi học, con lễ phép
nói :
- Con chào mẹ con đi học ạ !
+ Đến trường gặp cô, em lễ độ nói :
- Em chào cô ạ !
+ Gặp bạn ở trường, em vui vẻ (hồ hởi ) nói : Chào bạn.
Qua hoạt động trên, tôi đã lồng ghép giáo dục kĩ năng tự nhận thức và kĩ năng xác định giá trị của bản thân cho học sinh, đồng thời cũng tích hợp rèn “Kĩ năng tư duy tích cực” và “Kĩ năng giao tiếp” cho học sinh.
Bài tập 2 : Nhắc lại lời của bạn trong tranh.
Kĩ thuật thảo luận nhóm kết hợp với đóng vai.
Sau khi học sinh quan sát tranh, trả lời các câu hỏi, tôi cho các em thảo luận nhóm rồi tập đóng vai như ba bạn trong tranh (Mít – Bóng Nhựa và Bút Thép).
Các em khác xem phần đóng vai của bạn để đưa ra ý kiến nhận xét của bản thân mình : ba bạn chào hỏi, tự giới thiệu để làm quen với nhau rất lịch sự, đàng hoàng, bắt tay nhau thân mật như người lớn. Từ đó các em sẽ học theo cách chào hỏi, tự giới thiệu của các bạn.
Hoạt động này, tôi đã lồng ghép giáo dục kĩ năng giao tiếp cởi mở với bạn và biết lắng ý kiến chia sẻ của người khác để vận dụng tốt trong cuộc sống thường ngày.
Ví dụ 2 : Kĩ thuật “Thảo luận nhóm” – “Đóng vai”
Bài cảm ơn, xin lỗi (Tiếng Việt Tập 1 trang 38)
Bài tập 1 : Nói lời cảm ơn của em trong những trường hợp sau
a) Bạn cùng lớp cho em đi chung áo mưa.
b) Cô giáo cho em mượn quyển sách.
c) Em bé nhặt hộ em chiếc bút rơi.
Sau khi nghe học sinh đọc yêu cầu của đề bài, tôi hướng dẫn các em thảo luận nhóm để đi đến phát hiện ba việc làm nêu trong bài là việc làm tốt nhằm giúp đỡ người khác. Vậy khi nhận được sự giúp đỡ đó, các em cần đáp lại bằng lời cảm ơn.(Thảo luận – Chia sẻ).
Học sinh thực hành đóng vai để đưa ra lời cảm ơn cho từng tình huống :
a) HS1 : Mưa to lắm, bạn đi chung áo mưa với mình cho khỏi ướt nhé !
HS2 : Tốt quá, cảm ơn cậu.
b) HS1 : Cô cho em mượn quyển sách Cô tiên xanh mà em thích này.
HS2 : Ôi, tuyệt quá, em cảm ơn cô.
c) HS1 : Chị ơi, cái bút chị rơi đây này.
HS2 : Cho chị xin lại, chị cảm ơn em.
Bài tập 2 : Nói lời xin lỗi của em trong những trường hợp sau
a) Em lỡ bước, giẫm vào chân bạn.
b) Em mải chơi, quên làm việc mẹ đã dặn.
c) Em đùa nghịch, va phải một cụ già.
Học sinh thảo luận nhóm để phát hiện ba việc làm nêu trên là những việc làm gây thiệt hại hoặc phiền phức cho người khác. Vậy khi gây ra sự thiệt hại, phiền phức cho người khác, các em cần đưa ra lời xin lỗi để người bị làm phiền đó không bực mình và cảm thấy được tôn trọng. Mặt khác, khi người nhận được lời xin lỗi, cần tỏ thái độ thông cảm với người đã xin lỗi. (Thảo luận – Chia sẻ - Đóng vai 3 tình huống đó)
Bài tập này, tôi đã lồng ghép kĩ năng tự nhận thức về hành vi tốt, xấu để từ đó chia sẻ thông tin đó với bạn bằng cách hợp tác đóng vai.
Phần củng cố, tôi tổ chức trò chơi nói lời cảm ơn, xin lỗi phù hợp với tình huống :
Mỗi cặp lấy một đồ dùng học tập đã chuẩn bị trước để chơi trò này theo các tình huống giả định – bài tập tình huống :
Ví dụ:
Tình huống 1 : Lan vô ý làm rơi bút của bạn. Lan nói :
Tớ xin lỗi vì vô ý làm rơi bút của bạn.
Tình huống 2 :Nam được Bình cho mượn vở chép bài,Nam nói : Cảm ơn Bình đã cho mình mượn vở.
Ví dụ 3 : Bài Mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị. Kể ngắn theo câu hỏi (Tiếng Việt Tập 1 trang 69)
Bài tập 1 : Kĩ thuật “Trải nghiệm” – “Thảo luận nhóm chia sẻ thông tin” – “Đóng vai”
Sau khi học sinh xác định yêu cầu của bài tập : Nói những câu mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị đối với bạn.
Tôi hướng dẫn hai học sinh thực hành mẫu theo tình huống 1a (Bạn đến thăm nhà em. Em mở cửa mời bạn vào chơi), để nhận xét, góp ý thì học sinh sẽ đóng vai :
HS1 : Đến thăm nhà bạn, nói : Chào bạn !
HS2 : Mở cửa mời bạn vào chơi, nói : A, chào Lan ! Mời bạn vào đây.
Hoạt động trên đã giúp tôi lồng ghép “Kĩ năng giao tiếp : mạnh dạn, tự tin, cởi mở khi nói lời mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị mọi người ; chăm chú lắng nghe và phản hồi ý kiến người khác, “Kĩ năng hợp tác” tức là chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau khi thực hiện nhiệm vụ thực hành nói lời mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị và cuối cùng là ra quyết định tức là biết lựa chọn tình huống thích đáng để nói lời mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị.
Ví dụ 4 : Bài Đáp lời xin lỗi. Tả ngắn về loài chim. (Tiếng Việt Tập 2 trang 39)
Bài tập 2 : Kĩ thuật “ Thảo luận nhóm” – “Trình bày ý kiến cá nhân” – “Động não”.
Em đáp lại lời xin lỗi trong các trường hợp sau như thế nào ?
a) Một bạn vội, nói với em trên cầu thang : “Xin lỗi. Cho tớ đi trước một chút.”
b) Một bạn vô ý đụng vào người em, vội nói : “Xin lỗi. Tớ vô ý quá !”
c) Một bạn nghịch, làm mực bắn vào áo em, xin lỗi em : “Xin lỗi bạn. Mình lỡ tay thôi.”
d) Bạn xin lỗi em vì quên mang sách trả em : “Xin lỗi cậu. Tớ quên mang sách trả cậu rồi.”
Một học sinh đọc yêu cầu và các tình huống đáp lại lời xin lỗi trong bài. Tôi đã tổ chức cho các em hoạt động nhóm đôi và có lưu ý các em không nhất thiết phải nói giống hệt lời trong SGK, khuyến khích các em nói lời xin lỗi và lời đáp theo các cách khác nhau. Sau đó từng cặp sẽ trình bày phần thảo luận của mình trước lớp :
a) HS1 : Xin lỗi. Cho tớ đi trước một chút. / Xin lỗi. Mình vội, đi trước bạn một chút nhé ! ...
HS2 : Mời bạn. / Xin mời. / Bạn cứ đi đi ! ...
Nhiều cặp học sinh sẽ thực hành nói lời xin lỗi và lời đáp lần lượt theo các tình huống còn lại. Cả lớp và giáo viên nhận xét, bình chọn em nói lời đáp phù hợp với tình huống, thể hiện thái độ lịch sự.
b) Không sao. / Có sao đâu. / Bạn chỉ vô ý thôi mà. ...
c) Lần sau bạn cẩn thận hơn nhé ! Cái áo mình vừa mặc hôm nay đấy ...
d) Không sao. Mai cũng được mà. / Mai cậu nhớ nhé ! ...
Các tình huống đó giúp tôi lồng ghép được “ Kĩ năng làm việc nhóm”, chia sẻ thông tin đó với bạn để tự tin manh dạn “Trình bày ý kiến trước lớp” và “Động não”, suy nghĩ để tìm ra nhiều cách đáp lại hay hơn.
VI. Kết quả nghiên cứu :
Qua gần một năm thực hiện các biện pháp trên, tôi thấy kĩ năng sống của các em có tiến bộ rõ rệt. Đa số các em đều có ý thức tốt trong việc rèn luyện và trau dồi các kĩ năng. Điều đáng mừng là trong các tiết học môn Tập làm văn, học sinh hào hứng hơn, tích cực hoạt động hơn. Học sinh biết chăm chú lắng nghe, thực hành một cách tương đối chính xác, mạnh dạn, tự tin trình bày trước lớp. Nhờ kết quả này đã góp phần nâng dần chất lượng phân môn Tập làm văn của lớp tôi qua từng giai đoạn :
CHẤT LƯỢNG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 2C
(Thang điểm 5)
Tổng số học sinh : 21 em
|
Thời điểm |
Điểm 5 |
Điểm 4 |
Điểm 3 |
Điểm từ 2 trở xuống |
|
Giữa kì I |
2 – 9,5% |
4 – 19,0% |
8 – 38,1% |
7 – 33,4% |
|
Cuối kì I |
4 – 19,0% |
7 – 33,3% |
8 – 38,1% |
2 – 9,5% |
|
Giữa kì II |
8 – 38,1% |
9 – 42,9% |
4 – 19,0% |
|
VII. Kết luận :
Theo tôi, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh là một việc làm hết sức cần thiết của xã hội, các em không chỉ biết học giỏi về kiến thức mà còn phải được tôi luyện những kĩ năng sống, tạo cho các em một môi trường sống lành mạnh, an toàn, tích cực, vui vẻ. Việc giáo dục kĩ năng sống ngay từ lớp Hai sẽ rút ngắn thời gian để trang bị cho các em vốn kiến thức, kĩ năng, giá trị sống để làm hành trang bước vào đời.
* Để làm tốt việc rèn kĩ năng sống cho học sinh, mỗi thầy cô giáo cần phải :
- Xác định rõ tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.
- Nắm vững những đặc trưngvề phương pháp và hình thức tổ chức dạycác kĩ năng giao tiếp, ứng xử vào các môn học và các hoạt động khác.
- Tập trung vào việc soạn giảng, lồng ghép kĩ năng sống vào các môn học.
- Luôn tạo mọi điều kiện để các em bày tỏ, thể hiện mình, tham gia tốt các buổi hoạt động ngoại khóa của trường, lớp.
- Điều quan trọng là mỗi thầy cô giáo phải rèn cho mình tác phong sinh hoạt chuẩn mực, phải hết lòng thương yêu, gần gũi học sinh.
VIII. Đề nghị :
Những biện pháp tôi đã thực hiện trên đây chưa phải là hay nhất, mẫu mực nhất nhưng đã giúp cho tôi một số kinh nghiệm để “Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong phân môn Tập làm văn lớp Hai.” Vậy để nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục kĩ năng này, tôi xin đề nghị Nhà trường, Phòng Giáo dục tổ chức nhiều buổi hội thảo về tiết dạy lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, để chúng tôi có điều kiện giao lưu, học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp.
Vì khả năng có hạn nên đề tài rất khó tránh khỏi thiếu sót, tôi kính mong Hội đồng xét duyệt sáng kiến kinh nghiệm các cấp góp ý thêm để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Duy phước, ngày 2 tháng 4 năm 2012
Người viết
Hồ Thị Bình
IX. Phụ lục :
Nội dung và địa chỉ giáo dục kĩ năng sống trong phân môn Tập làm văn lớp Hai :
|
Tuần |
Tên bài học |
Các KNS cơ bản được GD |
Các phương pháp / kĩ thuật |
|
1 |
Tự giới thiệu |
- Tự nhận thức về bản thân. - Giao tiếp : cởi mở, tự tin trong giao tiếp, biết lắng nghe ý kiến người khác. |
- Làm việc nhóm – chia sẻ thông tin. - Đóng vai. |
|
2 |
Chào hỏi. Tự giới thiệu. |
- Tự nhận thức về bản thân. - Giao tiếp : cởi mở, tự tin trong giao tiếp, biết lắng nghe ý kiến người khác. - Tìm kiếm và xử lí thông tin. |
- Trải nghiệm. - Làm việc nhóm – chia sẻ thông tin. - Đóng vai. |
|
3 |
Sắp xếp câu trong bài. Lập danh sách học sinh. |
- Tư duy sáng tạo : khám phá và kết nối các sự việc, độc lập suy nghĩ. - Hợp tác. - Tìm kiếm và xử lí thông tin. |
- Động não. - Làm việc nhóm – chia sẻ thông tin. - Đóng vai. |
|
4 |
Cảm ơn, xin lỗi. |
- Giao tiếp : cởi mở, tự tin trong giao tiếp, biết lắng nghe ý kiến người khác. - Tự nhận thức về bản thân. |
- Làm việc nhóm – chia sẻ thông tin. - Đóng vai. |
|
5 |
Trả lời câu hỏi. Đặt tên cho bài. Luyện tập về mục lục sách. |
- Giao tiếp. - Hợp tác. - Tư duy sáng tạo : độc lập suy nghĩ - Tìm kiếm thông tin. |
- Động não. - Làm việc nhóm – chia sẻ thông tin. - Đóng vai. |
|
6 |
Khẳng định, phủ định. Luyện tập về mục lục sách. |
- Giao tiếp. - Thể hiện sự tự tin. - Tìm kiếm thông tin. |
- Trải nghiệm, thảo luận nhóm, trình bày ý kiến cá nhân, phản hồi tích cực. - Đóng vai. |
|
7 |
Kể ngắn theo tranh. Luyện tập về thời khóa biểu. |
- Thể hiện sự tự tin khi tham gia các hoạt động học tập. - Lắng nghe tích cực. - Quản lí thời gian. |
- Động não. - Làm việc nhóm – chia sẻ thông tin. - Đóng vai. |
|
8 |
Mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị. Kể ngắn theo câu hỏi. |
- Giao tiếp : cởi mở, tự tin trong giao tiếp, biết lắng nghe ý kiến người khác. - Hợp tác. - Ra quyết định. - Tự nhận thức về bản thân. - Lắng nghe phản hồi tích cực. |
- Trải nghiệm, thảo luận nhóm, trình bày ý kiến cá nhân, phản hồi tích cực. - Động não. |
|
10 |
Kể về người thân. |
- Xác định giá trị. - Tự nhận thức bản thân. - Lắng nghe tích cực. - Thể hiện sự cảm thông. |
- Trải nghiệm. - Đóng vai. - Trình bày 1 phút.
|
|
11 |
Chia buồn, an ủi. |
- Thể hiện sự cảm thông. - Giao tiếp : cởi mở, tự tin trong giao tiếp, biết lắng nghe ý kiến người khác. - Tự nhận thức về bản thận. |
- Đóng vai. - Trải nghiệm, thảo luận nhóm, trình bày ý kiến cá nhân, phản hồi tích cực. |
|
13 |
Kể về gia đình. |
- Xác định giá trị. - Tự nhận thức bản thân. - Tư duy sáng tạo. - Thể hiện sự cảm thông. |
- Đóng vai. - Trình bày 1 phút. |
|
15 |
Chia vui. Kể về anh chị em. |
- Thể hiện sự cảm thông. - Xác định giá trị. - Tự nhận thức về bản thân. |
- Đặt câu hỏi. - Trình bày ý kiến cá nhân. - Bài tập tình huống. |
|
16 |
Khen ngợi. Kể ngắn về con vật. Lập thời gian biểu. |
- Kiểm soát cảm xúc. - Quản lí thời gian. - Lắng nghe tích cực. |
- Đặt câu hỏi. - Trình bày ý kiến cá nhân. - Bài tập tình huống. |
|
17 |
Ngạc nhiên, thích thú. Lập thời gian biểu. |
- Kiểm soát cảm xúc. - Quản lí thời gian. - Lắng nghe tích cực |
- Đặt câu hỏi. - Trình bày ý kiến cá nhân. - Bài tập tình huống. |
|
19 |
Đáp lời chào, lời tự giới thiệu |
- Giao tiếp : ứng xử văn hóa. - Lắng nghe tích cực. |
- Hoàn tất một nhiệm vụ : thực hành đáp lại lời chào theo tình huống. |
|
21 |
Đáp lời cảm ơn. (BT2) |
- Giao tiếp : ứng xử văn hóa. - Tự nhận thức. |
- Hoàn tất nhiệm vụ : thực hành đáp lời cảm ơn theo tình huống. |
|
22 |
Đáp lời xin lỗi. (BT2) |
- Giao tiếp : ứng xử văn hóa. - Lắng nghe tích cực. |
- Hoàn tất nhiệm vụ : thực hành đáp lời xin lỗi theo tình huống. |
|
23 |
Đáp lời khẳng định. (BT2) |
- Giao tiếp : ứng xử văn hóa. - Lắng nghe tích cực. |
- Hoàn tất nhiệm vụ : thực hành đáp lời khẳng định theo tình huống. |
|
24 |
Đáp lời phủ định. (BT2) |
- Giao tiếp : ứng xử văn hóa. - Lắng nghe tích cực. |
- Hoàn tất nhiệm vụ : thực hành đáp lời từ chối theo tình huống. |
|
25 |
Đáp lời đồng ý. (BT1, BT2) |
- Giao tiếp : ứng xử văn hóa. - Lắng nghe tích cực. |
- Hoàn tất nhiệm vụ : thực hành đáp lời đồng ý theo tình huống. |
|
26 |
Đáp lời đồng ý. (BT1) |
- Giao tiếp : ứng xử văn hóa. - Lắng nghe tích cực. |
- Hoàn tất nhiệm vụ : thực hành đáp lời đồng ý theo tình huống. |
|
28 |
Đáp lời chia vui. (BT1) |
- Giao tiếp : ứng xử văn hóa. - Lắng nghe tích cực. |
- Hoàn tất nhiệm vụ : thực hành đáp lời chúc mừng theo tình huống. |
|
29 |
Đáp lời chia vui. (BT1) |
- Giao tiếp : ứng xử văn hóa. - Lắng nghe tích cực. |
- Hoàn tất nhiệm vụ : thực hành đáp lời chúc mừng theo tình huống. |
|
31 |
Đáp lời khen ngợi. (BT1) |
- Giao tiếp : ứng xử văn hóa. - Lắng nghe tích cực. |
- Hoàn tất nhiệm vụ : thực hành đáp lời khen ngợi theo tình huống. |
|
32 |
Đáp lời từ chối. (BT2) |
- Giao tiếp : ứng xử văn hóa. - Lắng nghe tích cực. |
- Hoàn tất nhiệm vụ : thực hành đáp lời từ chối theo tình huống. |
|
33 |
Đáp lời an ủi. (BT2) |
- Giao tiếp : ứng xử văn hóa. - Lắng nghe tích cực. |
- Hoàn tất nhiệm vụ : thực hành đáp lời an ủi theo tình huống. |
X. Tài liệu tham khảo :
- Sách Giáo khoa môn Tiếng Việt Lớp Hai (Tập 1, 2).
- Sách Giáo viên môn Tiếng Việt Lớp Hai (Tập 1, 2).
- Sách Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở Tiểu học. (Tài liệu dành cho giáo viên)
XI. Mục lục :
|
Thứ tự |
Tiêu đề các phần |
Trang |
|
1 |
Tên đề tài |
1 |
|
2 |
Đặt vấn đề |
1,2 |
|
3 |
Cơ sở lí luận |
2 |
|
4 |
Cơ sở thực tiễn |
3, 4 |
|
5 |
Nội dung nghiên cứu |
4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 |
|
6 |
Kết quả |
11 |
|
7 |
Kết luận |
11, 12 |
|
8 |
Đề nghị |
12 |
|
9 |
Phụ lục |
13, 14, 15, 16 |
|
10 |
Tài liệu tham khảo |
17 |
Hồ Thị Bình @ 17:53 29/04/2012
Số lượt xem: 860
- Chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Tiếng Vệt lớp 2 (14/02/12)
- Chuyên đề tập đọc (19/11/11)
- Sinh hoạt chuyên đề (04/11/11)
Chào mừng quý vị đến với website của trường Tiểu Học Số I Duy Phước
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.



Các ý kiến mới nhất