XEM THỜI GIAN

ONLINE TRỰC TUYẾN

Xuân Hạnh :

Dung Văn Thư:

WEB GIÁO DỤC

________________________________________

DANH SÁCH WEBSITE CÁC TRƯỜNG TRONG HUYỆN

TRĂM HOA KHOE SẮC


Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Ảnh ngẫu nhiên

Chuc_mung_ngay_nha_giao_Viet_nam_20_11.swf Thiep_chuc_mung_ngay_20_10.swf Bai_thi_viet_chu_dep_cua_hoc_sinh1.png

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Hình ảnh hoạt động

e_500

2_500_02

1_500_04

1_500_01

1_500_01

img_0002_500

img_0039_500

img_0025_500

img_0021_500

Nhiệt liệt chào mừng năm học mới 2017- 2018
Gốc > Chuyên môn >

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌCTẬP LÀM VĂN LỚP 5

 I. Tên đề tài:                        MỘT SỐ BIỆN PHÁP

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN LỚP 5

 

II. ĐẶT VẤN ĐỀ:

1. Lí do chọn đề tài:

Đầu năm học 2012-2013, thực hiện việc luân chuyển giáo viên qua các khối lớp, tôi được nhà trường phân công dạy lớp 5. Đây là năm đầu tiên dạy khối lớp này nên tôi biết rằng phải sẵn sàng đối mặt với nhiều khó khăn trong dạy học, bởi lớp 5 là lớp thứ hai trong giai đoạn học tập sâu, số môn học nhiều hơn, lượng kiến thức tăng nhiều, các em tiếp tục học các bài về lí thuyết một cách có hệ thống chứ không còn là làm quen dưới hình thức luyện theo mẫu từng mảng nhỏ như ở lớp 2-3, nhất là trong môn Tiếng Việt.

 

Sau khi tìm hiểu thực trạng và khảo sát chất lượng đầu năm của học sinh lớp 5B, nhận thấy yên tâm với chất lượng môn Toán của các em có khả quan hơn là môn Tiếng Việt nên tôi xác định năm nay sẽ tập trung rèn kĩ năng viết văn cho học sinh đại trà trong lớp và kĩ năng viết văn cho một số em có khá - giỏi trong lớp có khả năng học nâng cao hơn so với chuẩn tối thiểu. 

 

Kĩ năng viết văn của học sinh tiểu học là kết quả tổng hợp kiến thức của nhiều phân môn không chỉ trong môn Tiếng Việt và là kết quả của nhiều kĩ năng như nghe, nói, đọc, viết, cảm thụ văn học… Để đạt được mục tiêu đó, tôi đã nghiên cứu áp dụng nhiều biện pháp có tính tổng hợp và thiết thực để tổ chức cho học sinh rèn luyện một cách có ý thức và đã đạt được một số kết quả khả quan. Tôi xin được đúc kết kinh nghiệm sau khi thực nghiệm đề tài : “Một số biện pháp nâng cao chất lượng Tập làm văn lớp 5” để Hội đồng nghiên cứu khoa học các cấp xem xét.

      2. Phạm vi nghiên cứu: Tập làm văn lớp 5 gồm 67 tiết, trong đó văn miêu tả chiếm 45 tiết, còn 22 tiết chủ yếu là các dạng văn bản khác như báo cáo thống kê, đơn, thuyết trình, tranh luận, biên bản, chương trình hoạt động, chuyển đoạn văn thành kịch... Trong đề tài này, tôi đi sâu vào các biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh.

      3. Đối tượng thực nghiệm:

         Học sinh lớp 5B Trường Tiểu học Số 1 Duy Phước, năm học 2012 - 2013.

 

III. CƠ SỞ LÍ LUẬN:

Theo U-sin-xki: “Trẻ em đi vào trong đời sống tinh thần của mọi người xung quanh nó, duy nhất thông qua phương tiện tiếng mẹ đẻ và ngược lại, thế giới bao quanh đứa trẻ được phản ánh trong nó chỉ thông qua chính công cụ này”. Tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người. Với cộng đồng, đó là một công cụ để giao tiếp và tư duy.

Theo tài liệu tập huấn thay sách, để tiếng mẹ đẻ trở thành công cụ đắc lực như thế, việc dạy Tiếng Việt phải nhằm vào cả hai chức năng của ngôn ngữ (công cụ tư duy và công cụ giao tiếp); phải chú trọng vào cả bốn kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết); phải hướng tới sự giao tiếp và sử dụng phương pháp giao tiếp.

 

Trong tác phẩm “Dạy Tập làm văn ở Tiểu học” - Tiến sĩ Nguyễn Trí viết:  “Phân môn Tập làm văn có tính chất tổng hợp, có quan hệ chặt chẽ với việc dạy học Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu. Đây là nơi tiếp nhận và cũng là nơi luyện tập càng ngày càng nhuần nhuyễn các kĩ năng và kiến thức các phân môn trên. Bài tập làm văn trở thành sản phẩm tổng hơp, là nơi trình bày kết quả đích thực nhất của việc học Tiếng Việt (tiếng mẹ đẻ). Tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người. Với cộng đồng, đó là công cụ để giao tiếp và tư duy. Đối với trẻ em, tiếng mẹ đẻ lại càng có vai trò quan trọng hơn.”

 

Gần đây, trong buổi giảng về “Phương pháp dạy học” vào ngày 13/3/2013, khi bàn về tầm quan trong của việc sử dụng ngôn từ, Giáo sư Ngô Bảo Châu – một người nổi tiếng thế giới về Toán cao cấp – nhưng ông vẫn khẳng định tầm quan trọng của kĩ năng viết lách, kĩ năng diễn đạt ý tưởng:

 

 

- Là người nghiên cứu về toán nhưng từng viết sách và rất chăm chút khi sử dụng câu từ, ông đánh giá thế nào về việc Bộ GD&ĐT cho thí sinh dự thi vào 10 trường thuộc khối văn hóa nghệ thuật không phải thi môn Văn?

- Tôi chưa rõ lắm về quyết định của Bộ nên nếu suy luận có thể hồ đồ. Tôi nghĩ rằng tất cả người làm khoa học và nghệ thuật, việc chăm chút câu từ là vô cùng quan trọng. Những gì mình nói, viết ra phải tự đặt chuẩn để nỗ lực diễn đạt một cách mạch lạc nhất, không dùng sáo từ, không dùng từ thừa. Điều đó không chỉ tôn trọng bạn đọc, người đối thoại mà còn thể hiện sự tôn trọng chính mình.

Việc lựa chọn câu từ thích hợp, diễn đạt mạch lạc sẽ làm cho tư duy sáng sủa hơn. Ngôn ngữ quyết định suy nghĩ của mình và những người tự bằng lòng với cách diễn đạt mập mờ, ề à thì suy nghĩ cũng không được tốt lắm.

                                                                     (Báo VnEpress ngày 13/3/2013)

 

       Các đơn vị của ngôn ngữ như từ, cụm từ, câu... ở tiểu học được dạy trong hoạt động giao tiếp. Từ được xem xét khi nó tham gia tạo cụm từ, tạo câu... Đoạn văn không chỉ được xem xét trong quan hệ với các câu mà còn được xem xét trong quan hệ với các đoạn khác của bài văn. Các từ, câu, đoạn... trong bài văn lại được xem xét, tìm hiểu trong mối quan hệ với mục đích và nội dung giao tiếp, trong quan hệ với nhân vật và các tình huống giao tiếp. Từ đó học sinh hiểu được không chỉ cấu tạo, đặc điểm mà còn hiểu được ý nghĩa tác dụng của các đơn vị tiếng Việt trên trong quá trình giao tiếp.

 

          Kiến thức về từ, câu, dấu câu... phải được rút ra qua phân tích các mẫu lời nói: Các bài thực hành kĩ năng cần tuân thủ yêu cầu luyện tập theo hệ thống các thao tác của hoạt động nói năng (xác định yêu cầu, lập dàn ý, viết đoạn và bài, kiểm tra và sửa chữa lời nói, bài viết...); xây dựng hệ thống bài tập phản ánh cơ chế sản sinh và lĩnh hội lời nói thông qua các tình huống giao tiếp...

 

          Chính vì thế, Bộ GD&ĐT yêu cầu người giáo viên tiểu học cần ghi nhớ và thường xuyên thể hiện 3 quan điểm khi tổ chức dạy học tiếng Việt là: quan điểm giao tiếp – quan điểm tích hợp và quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh. (SGV Tiếng Việt 5/1, trang 5 - 8)

 

Mục đích cuối cùng của việc dạy học phân môn Tập làm văn ở trường tiểu học là tổ chức cho học sinh được thực hành, vận dụng các kiến thức mang tính tổng hợp từ các phân môn như tập đọc, chính tả, luyện từ và câu, thông qua việc thực hiện dùng từ, đặt câu, diễn đạt ý một cách trôi chảy, mạch lạc để hình thành nên đoạn văn, phát triển thành bài văn hoàn chỉnh.

 

Để đạt được điều đó, tôi thấy rằng mình phải biết tổ chức cho học sinh được hoạt động dưới nhiều biện pháp mang tính đồng bộ và lồng ghép một cách thường xuyên trong từng tiết học, nghĩa là tổ chức cho học sinh hoạt động gì cũng đều đặt yếu tố diễn đạt bằng ngôn ngữ giao tiếp lên trên hết để trau dồi tư duy ngôn ngữ.

 

IV. CƠ SỞ THỰC TIỄN:                 

Lớp 5B của tôi năm nay được hình thành do gộp số học sinh lớp 4A, 4B và một số học sinh 4C lại. Tổng số hs đầu năm: 32 / 16 nữ. Trong đó:

Học đúng độ tuổi: 31/32

Số hs con gia đình cán bộ, công chức: 03 em

Số hs con gia đình lao động nông nghiệp: 29 em

Số em ở với ông bà (vì không có cha mẹ hoặc cha mẹ đi làm ăn xa): 03 em

 

* Ngày 06/9/2012, Tổ Chuyên môn thống nhất ra đề khảo sát đầu năm nay về Tiếng Việt (Chính tả và Tập làm văn) như sau:     

 

Trường Tiểu học       ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM

Số 1 Duy Phước                    Môn: TIẾNG VIỆT - LỚP 5
                                                Thời gian làm bài: 60 phút

I.. Chính tả: (5 điểm – Thời gian 20 phút)

1. Điền vào chỗ dấu chấm (1,5 điểm):

          a) s hay x:

          - nhỏ ...íu, dòng ...ông, giọt ...ương, xôn ...ao.

          b) d hay gi:

          - cảm ...ác, hung ...ữ, ...ận hờn, gian ...ối.

          c) êu hay iêu:

          - kì d..., m... tả, đ... đặn, k... gọi.

2. Nghe – viết (3,5 điểm)

                                               Đường đi Sa Pa (từ Hôm sau ... đến hết)

II. Tập làm văn (5 điểm - Thời gian 40 phút)
          Tả một con vật nuôi trong nhà.

         * Kết quả khảo sát đầu năm lớp 5B:

Môn

TS

G (9-10)

K (7-8)

TB (5-6)

Y (3-4)

Kém (1-2)

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

Viết

32

6

18,1

9

28,1

12

37,5

5

15,6

 

 

Toán

32

9

28,1

10

31,2

11

34,4

2

6,3

 

 

 

Sau vài tuần đầu dạy học ở lớp và qua bài khảo sát chất lượng đầu năm, tôi nhận thấy nhiều học sinh trong lớp của tôi còn mắc khá nhiều lỗi chính tả bình thường, một số em viết chữ chưa ngay ngắn, viết câu văn chủ yếu là đủ hai thành phần chủ vị chứ chưa biết mở rộng câu, ý tưởng và vốn từ còn nghèo. mắc nhiều lỗi diễn đạt, chưa biết vận dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa đã học vào bài làm, dù 2 biện pháp này các em đã được học từ lớp 2, lớp 3...

         

          Tôi lập riêng danh sách học sinh giỏi và danh sách học sinh còn yếu trong sổ chủ nhiệm để theo dõi sự tiến bộ theo từng giai đoạn kiểm tra định kì (xin xem bảng thống kê ở trang 12).

 

Các hạn chế trên của học sinh chủ yếu là chưa có kĩ năng nghe – nhớ được cả câu hoặc cụm từ cần viết. Các em này cũng có biểu hiện yếu trong kĩ năng tập đọc và từ đó cũng yếu cả về kĩ năng viết văn. Còn các học sinh đạt điểm Khá – Giỏi thì cũng cần quan tâm đến kĩ năng mở rộng kĩ năng dùng từ gợi tả, gợi cảm, các thành phần phụ trong câu như trạng ngữ, hô ngữ, định ngữ, bổ ngữ... dưới hình thức “luyện theo mẫu” để có những câu văn diễn đạt ý tưởng rõ ràng, trau chuốt hơn. Đó là những vấn đề mà tôi xác định phải quan tâm cho học sinh.

 

  V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

       Từ thực trạng rút ra trong quá trình giảng dạy và khảo sát chất lượng đã phân tích ở trên, để thực nghiệm có kết quả, tôi tiến hành các biện pháp sau:

Biện pháp 1: Nghiên cứu chương trình Tập làm văn lớp 5 theo “hướng dẫn điều chỉnh dạy học” của Bộ GD&ĐT:

Từ đầu năm học 2012 – 2013, trong chương trình phân môn Tập làm văn lớp 5, Bộ GD đã hướng dẫn điều chỉnh giảm tải một số bài như sau:

 

Tuần

Tên bài dạy

Điều chỉnh

9

TLV: Luyện tập thuyết trình tranh luận (trang 91, tập 1)

Không làm bài tập 2

16

TLV: Làm biên bản một vụ việc (trang 161, tập 1)

Không dạy

25

TLV: Tập viết đoạn đối thoại (trang 77, tập 2)

Chọn nội dung gần gũi với học sinh để luyện tập kĩ năng đối thoại.

29

TLV: Tập viết đoạn đối thoại (trang 113, tập 2)

Chọn nội dung gần gũi với học sinh để luyện tập kĩ năng đối thoại.

 

        Như vậy, trong 66 tiết Tập làm văn trong Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo không dạy 1 tiết và điều chỉnh một số bài tập như trên, còn lại 66 tiết gồm các kiểu bài như sau:

Báo cáo thống kê: 02 tiết

Đơn từ : 3 tiết

Thuyết trình, tranh luận: 02 tiết

Biên bản: 03 tiết (có tiết giảm tải theo chương chình của Bộ GD)

Chương trình hoạt động: 03 tiết

Chuyển đoạn văn thành kịch: 03 tiết

Tập viết đoạn hội thoại: 03 tiết

Ôn tập văn kể chuyện: 03 tiết

Miêu tả: 45 tiết

Trong 45 tiết văn miêu tả, tôi nhận thấy có 3 loại bài được phân bố như sau:

Miêu tả đồ vật: 04 tiết (bắt đầu văn miêu tả từ tuần 14 đến tuần 21)

Miêu tả cây cối: 03 tiết (từ tuần 21 đến tuần 28)

Miêu tả con vật: 03 tiết

          Miêu tả cảnh: 18 tiết

          Miêu tả người: 17 tiết             

          Miêu tả cảnh (từ tuần 29 đến tuần 34).

 

Ba loại văn miêu tả trên là cơ sở để lên lớp 6 học sinh sẽ học văn tả cảnh và tả người, vì tôi đã tham khảo sách Ngữ văn lớp 6 để tìm sự tương đồng và khác biệt giữa 2 khối lớp 5 và 6 và thấy kết quả như sau:

TÍNH TÍCH HỢP - ĐỒNG TÂM GIỮA TV LỚP 5 VỚI NGỮ VĂN LỚP 6                                                            

   Tiết 8: Tìm hiểu chung về văn tự sự.

Tiết 76: Tìm hiểu chung về văn miêu tả. (Đã học ở lớp 4-5)

Tiết 83,84: Luyện nói về quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả. (Đã học ở lớp 4-5, lên lớp 6 nâng cao hơn)

Tiết 92: Phương pháp tả người. (Đã học ở lớp 5)

Tiết 116: Trả bài kiểm tra Văn. Bài Tập làm văn tả người.

Tiết 121, 122: Viết bài Tập làm văn miêu tả sáng tạo. (Đã học ở lớp 4-5, lên lớp 6 nâng cao hơn)

Tiết 124: Viết đơn (đã học ở lớp 5, lên lớp 6 nâng cao hoàn thiện hơn)

 

Trên cơ sở tìm hiểu phân phối chương trình, tôi thấy điểm chung nhất của Tập làm văn lớp 5 với lớp 6 về các loại bài miêu tả, có thể kế thừa, bổ sung hiệu quả cho nhau là:

a) Bố cục các loại bài miêu tả đều giống nhau, đều có 3 phần là Mở bài – Thân bài – Kết bài.

b) Trong mỗi loại bài miêu tả trên, loại nào cũng có một số tiết giống nhau như:

- “Luyện tập mở bài trực tiếp / gián tiếp”;

- “Luyện tập kết bài mở rộng / không mở rộng”;

- “Lập dàn ý của bài văn miêu tả cho sẵn”;

- “Viết một đoạn văn miêu tả…”

          c) Trong mỗi loại bài ở phân môn tập làm văn lớp 5, tôi thấy luôn có một số bài văn ở phân môn Tập đọc có cùng thể loại để hỗ trợ dạy lí thuyết và minh họa cho việc dạy tập làm văn cho học sinh. Ví dụ:

Tuần

Trong phân môn Tập đọc có bài

Hỗ trợ cho Tập làm văn về:

1

Quang cảnh làng mạc ngày mùa

Tả cảnh vật

2

Sắc màu em yêu

Tả cảnh vật

5

Một chuyên gia máy xúc

Tả người

7

Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà

Tả cảnh

8

Kì diệu rừng xanh

Tả cảnh vật

8

Trước cổng trời

Tả cảnh vật

9

Đất Cà Mau

Tả cảnh

11

Chuyện một khu vườn nhỏ

Tả cảnh

12

Mùa thảo quả

Tả cảnh

15

Về ngôi nhà đang xây

Tả cảnh

21

Tiếng rao đêm

Tả người

22

Tả cảnh

Tả cảnh

25

Phong cảnh đền Hùng

Tả cảnh

25

Cửa sông

Tả cảnh

26

Hội thổi cơm ở Đồng Văn

Tả cảnh

27

Tranh làng Hồ

Tả cảnh

27

Đất nước

Tả cảnh

29

Một vụ đắm tàu

Tả cảnh

30

Tà áo dài Việt Nam

Tả đồ vật

32

Những cánh buồm

Tả cảnh

Biện pháp 2: Lồng ghép củng cố kiến thức về Từ và câu, Cảm thụ văn học qua mỗi bài Tập đọc, Học thuộc lòng lớp 5:

Đây không phải là việc chỉ dành cho học sinh giỏi mà rất cần cho học sinh đại trà có dịp thực hành củng cố kiến thức đã học trong phân môn Luyện từ và câu trong tuần hoặc của các tuần trước đó. Việc này được tiến hành ngay từ đầu năm và bài nào tôi cũng làm như thế.

     Ví dụ, vào ngày 20/8/2012, tiết 1 bài Tập đọc đầu tiên của lớp 5 là: “Thư gửi các học sinh”, chúng tôi chọn vài câu để hỏi nhằm củng cố kiến thức về “Trạng ngữ - chủ ngữ - vị ngữ” mà các em mới được học ở các tuần cuối lớp 4:

     + Xác định trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ trong câu sau:

      a) Ngày hôm nay, nhân buổi tựu trường của các em, tôi chỉ biết chúc các em một năm đầy vui vẻ và đầy kết quả tốt đẹp.

 

(Ngày hôm nay, nhân buổi tựu trường của các em, tôi chỉ biết chúc các em một năm đầy vui vẻ và đầy kết quả tốt đẹp.)

 b) Nhưng sung sướng hơn nữa, từ giờ phút này giở đi, các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.      

 (Nhưng sung sướng hơn nữa, từ giờ phút này giở đi, các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.)    

 Vào ngày 22/8/2012, khi dạy bài “Quang cảnh làng mạc ngày mùa”, tôi hỏi để củng cố về “Từ đồng nghĩa” mà các em vừa học ở tuần 1:

      + Tìm các từ đồng nghĩa chỉ màu vàng có trong bài ?

(vàng xuộm, vàng hoe, vàng lịm, vàng ối, vàng tươi, vàng xọng, vàng giòn, vàng mượt).

 Ngày 04/9/2012, sau khi dạy bài “Mở rộng vốn từ: Tổ quốc”, vì ngữ liệu trong sách giáo khoa quá ít ỏi nên để mở rộng, củng cố, tôi viết sẵn bài tập sau trên bảng phụ để học sinh thực hành:

Tìm thêm những từ cùng nghĩa với Tổ quốc và đặt câu với các từ vừa tìm được.

    Đáp án: Các từ cùng nghĩa với Tổ quốc là: Quê cha đất tổ, quê hương bản quán, quê mẹ, nơi chôn rau cắt rốn,...

    - Quê hương: Quê hương em ở tận ngoài Bắc.

          - Quê hương bản quán: Dù đi đâu xa, chúng tôi vẫn luôn nghĩ về quê hương bản quán của mình.

          - Quê mẹ: Xa xứ, người ta thường nhớ về quê mẹ.

          - Nơi chôn rau cắt rốn: Bố em nói: “Tết này bố sẽ đưa cả nhà về thăm nơi chôn rau cắt rốn của mình.”

 

Hoặc ngày 11/9/2012, trong tiết dạy bài tập đọc “Lòng dân”, sau khi hướng dẫn hs tìm hiểu nội dung xong, tôi hỏi thêm một câu để củng cố về vốn từ Tổ quốc: Tìm từ bắt đầu bằng tiếng đồng ?

Đáp án: Từ bắt đầu bằng tiếng đồng: đồng bào, đồng chí, đồng lòng, đồng hương, đồng thời, đồng bọn, đồng ca, đồng cảm, đồng điệu, đồng dạng, đồng hành, đồng đội, đồng tình, đồng nghĩa, đồng môn, đồng loạt, đồng nghiệp, đông tâm, đồng khởi, đồng diễn,...

          Các từ trên chưa xuất hiện trong bài “Từ đồng nghĩa” nên nó giúp củng cố, mở rộng kiến thức một cách vừa sức cho học sinh”, chỉ tốn 1 phút mà đạt hiệu quả cao.

 

* Về cảm thụ văn học: Tôi và các học sinh giỏi cùng sử dụng tên sách nâng cao là “Rèn kĩ năng Cảm thụ thơ văn Tiểu học 5” của tác giả Tạ Đức Hiền – Nguyễn Việt Nga – Phạm Đức Minh.

      - Ngày 10/10/2012,khi dạy bài Hạt gạo làng ta, tôi ra bài cho học sinh giỏi làm vào vở riêng: Trong bài Tiếng đàn Ba-la-lai-ca trên sông Đà, nhà thơ Quang Huy đã miêu tả một đêm trăng vừa tĩnh mịch vừa sinh động trên công trường sông Đà như sau:

      Lúc ấy, cả công trường say ngủ cạnh dòng sông

      Những tháp khoan nhô lên trời ngẫm nghĩ

      Những xe ủi, xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ

      Chỉ còn tiếng đàn ngân nga

      Với một dòng trăng lấp loáng sông Đà.

      Khổ thơ trên có hình ảnh nào đẹp nhất ? Hình ảnh ấy cho ta thấy ý nghĩa gì sâu sắc ?

- Ngày 28/11/2012,khi dạy bài Hạt gạo làng ta, tôi ra bài cho học sinh giỏi làm vào vở riêng: Trong bài Hạt gạo làng ta, nhà thơ Trần Đăng Khoa có viết:

Hạt gạo làng ta

Có bão tháng bảy

Có mưa tháng ba

Giọt mồ hôi sa

Những trưa tháng sáu

Nước như ai nấu

Chết cả cá cờ

Cua ngoi lên bờ

Mẹ em xuống cấy

          Em hiểu đoạn thơ trên như thế nào ? Hình ảnh đối lập trong đoạn thơ gợi cho em những suy nghĩ gì ?

- Ngày 12/11/2013 khi dạy bài Mùa thảo quả, tôi cho học sinh giỏi làm bài tập sau:Trong bài Mùa thảo quả, nhà văn Ma Văn Kháng tả hương thơm trong thảo quả như sau:

          Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San. Gió thơm. Cây cỏ thơm. Đất trời thơm. Người đi từ rừng thảo quả về, hương thơm đậm ủ ấp trong từng nếp áo, nếp khăn.

          Hãy nêu nhận xét về cách dùng từ, đặt câu nhằm nhấn mạnh hương thơm của thảo quả chín trong đoạn văn trên.

- Ngày 14/11/2012,khi dạy bài Hành trình của bầy ong, tôi ra bài cho học sinh giỏi làm vào vở riêng: Kết thúc bài Hành trình của bầy ong, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu có viết:

                       Bầy ong giữ hộ cho người

             Những mùa hoa đã tàn phai tháng ngày.

           Qua hai dòng thơ trên, em hiểu công việc của bầy ong có ý nghĩa gì đẹp đẽ ?

       Với mỗi câu trên, tác giả có phần gợi ý trả lời rất dễ hiểu. Tôi cho học sinh khá giỏi đọc trong lúc học sinh diện Yếu, Trung bình, rèn đọc bài Tập đọc, rồi yêu cầu học sinh cất sách tự diễn đạt nội dung trả lời theo cách của mình vào vở dành riêng cho học bồi dưỡng. Có thể nói tiết tập đọc nào tôi cũng nghiên cứu, tìm một vài câu trong sách Tiếng Việt nâng cao để lồng ghép để giúp học sinh khắc sâu kiến thức đã học. Đồng thời tôi cũng thường xuyên theo dõi lúc chấm chữa bài các học sinh giỏi để các em thấy được mức tiến bộ của mình, đồng thời tôi cũng phát hiện được những kiến thức nào học sinh còn chưa vững, những kiến thức nào các em đã khắc sâu mà có điều chỉnh hoặc bổ sung các bài tập phù hợp.

         Tương tự như thế, bài Tập đọc – Học thuộc lòng nào từ tuần 1 đến tuần 29 này tôi cũng tìm các ngữ liệu về từ và câu để lồng ghép hướng dẫn học sinh ôn tập để củng cố và vận dụng vào Tập làm văn. Xin xem các nội dung ở Phụ lục 1 trang 32 do tôi tự soạn để lồng ghép củng cố được đính kèm ở cuối đề tài.

 

Biện pháp 3: Làm giàu vốn từ cho học sinh:

Trong phân môn Tập đọc: Theo nội dung tập huấn thay sách, có 7 biện pháp để cung cấp từ cho học sinh là:

1. Trực quan (bằng hình vẽ, tranh ảnh, vật thật)

2. Dùng động tác: ví dụ GV đứng nghiêm lúc giảng từ "nghiêm", hoặc cho một học sinh làm động tác "sút bóng" lúc giảng từ "sút bóng"

3. Dùng vật thật, người thật - còn gọi là "trực quan sống"   

4. Tìm từ cùng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giảng.  Ví dụ: Muốn giảng từ "hối hả", GV cho HS tìm từ trái nghĩa (hoặc cùng nghĩa) với "hối hả". Nếu HS tìm được từ "chậm rãi, đủng đỉnh..." xem như đã hiểu từ "hối hả". 

5. Dùng ví dụ, liên hệ thực tế hoặc nêu tình huống để minh hoạ cho từ cần giảng. Ví dụ muốn giảng từ "nhẫn tâm" thì GV có thể nêu việc “con đuổi mẹ già ra sống ở vỉa hè”... vừa đăng trên báo để hs thấy người con “nhẫn tâm”.  

6. Đặt câu với từ cần giảng, nếu HS dùng từ đó một cách phù hợp trong câu thì xem như đã hiểu từ đó. 

7. Định nghĩa theo từ điển, thường thoát li ngữ cảnh và thường dẫn học sinh đi từ khái niệm khó hiểu nầy đến khái niệm khó hiểu khác.

 

Học sinh lớp 5 đã có vốn từ và vốn sống khá hơn các lớp 1-2-3-4 nên tôi đã ưu tiên áp dụng biện pháp 4 và nhất là biện pháp 6 đã nêu trên để cung cấp từ chủ điểm cho học sinh nhằm giúp học sinh có dịp rèn luyện “sản sinh ngôn bản” là câu. Khi chọn từ, tôi thường chọn các từ ghép văn hóa hoặc từ láy mà học sinh chưa được học trong Luyện từ và câu chứ không chọn những từ quen thuộc mà các em đã từng sử dụng ở lớp 2-3-4 như “học sinh, chăm chỉ, siêng năng, chuyên cần…”

 

Ví dụ trong bài tập đọc “Thư gửi các học sinh” ngày 20/8/2012, tôi không hỏi học sinh “tưởng tượng là gì?” theo cách định nghĩa mà tôi yêu cầu học sinh đặt câu với từ như: tưởng tượng; tựu trường; học hành; nước nhà ;…

Học sinh đặt câu như thế là các em đã sản sinh ra một sản phẩm của riêng mình và có ích cho việc sử dụng vào bài tập làm văn.

Những việc như vừa nêu đem lại hiệu quả tổng hợp và thiết thực cho học sinh đại trà trong việc rèn kĩ năng viết văn hơn là bắt học sinh tìm đại ý hoặc tổ chức các trò chơi chỉ có vài học sinh giỏi tham gia. Nếu em yếu không trả lời được thì tôi yêu cầu em đó nhắc lại câu trả lời đúng của bạn, cũng có tác dụng nhất định.

 

Biện pháp 4: Biện pháp dạy học cá thể hóa cho nhóm đối tượng học sinh giỏi:

Để rèn kĩ năng viết văn cho học sinh đạt hiệu quả, tôi thấy rằng ngoài các  biện pháp chung cho các đối tượng trong lớp, tôi phải có thêm các biện pháp dạy học cá thể hóa cho phù hợp đối tượng, đảm bảo em nào cũng được học theo tinh thần “sức 9 học 10”, tránh dạy cái quá khó cho học sinh Trung bình – Yếu hoặc tránh dạy cái quá dễ cho học sinh Khá-Giỏi. Nhưng cũng không thể chia lớp thành quá nhiều nhóm đối tượng, nên tôi chia học sinh trong lớp thành 3 nhóm là “nhóm A” (Giỏi) – “nhóm B” (TB-Khá) và “Nhóm C” (Yếu).

Qua vài tuần dạy học và khảo sát chất lượng đầu năm, tôi xác định được 07 em có năng lực tự học tốt, có thể bồi dưỡng nâng cao (nhóm A), gồm:

 

STT

Họ và tên học sinh

Đặc điểm

1

Lê Trung Tài

Giỏi đều 2 môn TV & Toán

2

Hồ Thị Lan

Giỏi đều 2 môn TV & Toán

3

Phạm Đình Nam

Giỏi Toán; cần rèn kĩ năng viết văn

4

Lê Đức Tuấn

Giỏi Toán; cần rèn kĩ năng viết văn

5

Nguyễn Thị Thanh Trà

Giỏi Toán; cần rèn kĩ năng viết văn

6

Nguyễn Thị My My

Giỏi Toán; cần rèn kĩ năng viết văn

Danh sách 5 học sinh yếu (nhóm C), gồm:

STT

Họ và tên học sinh

Đặc điểm

1

Nguyễn Tam Hiếu

Yếu đều 2 môn TV & Toán

2

Lê Hoàng Linh

Yếu đều 2 môn TV & Toán

3

Nguyễn Quốc Huy

Yếu Tiếng Việt; cần rèn kĩ năng viết văn

4

Hứa Văn Trường Vũ

Yếu Tiếng Việt; cần rèn kĩ năng viết văn

5

Lê Đại Tới

Yếu Toán; cần rèn kĩ năng viết văn

 

Hiện nay, sách Tiếng Việt nâng cao lớp 5 có nhiều loại đang lưu hành như:

1. Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 (Trần Mạnh Hưởng – Lê Hữu Tỉnh (NXB Giáo dục)

2. Tiếng Việt nâng cao 5 (Lê Phương Nga – Trần Thị Minh Phương – Lê Hữu Tỉnh (NXB Giáo dục)

3. Những bài văn hay lớp 5 (Trần Đức Niềm – Lê Thị Nguyên)

4. 155 Bài làm văn hay Tiếng Việt 5 (NXB TPHCM của nhiều tác giả)

          5. Rèn kĩ năng Cảm thụ thơ văn Tiểu học 5 (Tạ Đức Hiền – Nguyễn Việt Nga – Phạm Đức Minh)...

Để tránhquá tải cho học sinh và nhất là giáo viên và học sinh giỏi phải cùng sách thì GV mới dễ tổ chức, nên tôi chọn quyển “Tiếng Việt nâng cao 5” của Lê Phương Nga – Trần Thị Minh Phương – Lê Hữu Tỉnh biên soạn vì đó cũng là các tác giả viết sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học hiện hành.

         Ví dụ: Ngày 21/8/2012, trong tiết 1 tuần 1 của phân môn Luyện từ và câu lớp 5 là bài: “Từ đồng nghĩa”, tôi củng cố kiến thức qua bài tập sau:

        + Câu 2: Hãy xếp các từ dưới đây thành từng nhóm đồng nghĩa:

Chết, hi sinh, tàu hỏa, xe hỏa, máy bay, ăn, xơi, nhỏ, nhỏ bé, rộng, rộng rãi, bao la, toi mạng, quy tiên, xe lửa, phi cơ, tàu bay, ngốn, đớp, loắt choắt, bé bỏng, bát ngát, mênh mông.

Đáp án: Các nhóm từ đồng nghĩa:

          a) Chết, hi sinh, toi mạng, quy tiên

     b) Tàu hỏa, xe hỏa, xe lửa

     c) Máy bay, phi cơ, tàu bay  

     d) Ăn, xơi, ngốn, đớp

     e) Nhỏ, nhỏ bé, loắt choắt, bé bỏng

          g) Rộng, rộng rãi, bao la, bát ngát, mênh mông.

 

         Ngày 23/8/2012, trong tiết 1 tuần 2, khi dạy bài “Luyện tập về từ đồng nghĩa”, sau khi học chung phần lý thuyết, tôi viết bài tập sau trên bảng phụ để học sinh thực hành thêm để củng cố nội dung Sách giáo khoa:

+ Câu 2: Tìm các từ đồng nghĩa:

          a) Chỉ màu xanh                                 c) Chỉ màu trắng

          b) Chỉ màu đỏ                                    d) Chỉ màu đen

Đáp án: Các từ dồng nghĩa:

          a) Chỉ màu xanh: xanh, xanh xanh, xanh lơ, xanh lam, xanh biếc, xanh da trời, xanh nước biển, xanh ngát, xanh ngắt, xanh rờn, xanh mướt...

          b) Chỉ màu đỏ: đo đỏ, đỏ cờ, đỏ au, đỏ chói, đỏ chóe, đỏ chót, đỏ hoe, đỏ hỏn, đỏ lòm, đỏ ới ,đỏ quạch, đỏ rực, đỏ ửng...

          c) Chỉ màu trắng: trăng trắng, trắng trẻo, trắng tinh, trắng ngà, trắng nõn, trắng phau, trắng lóa, trắng xóa, trắng toát, trắng muốt...

          d) Chỉ màu đen: đen đen, đen kịt, đen đúa, đen thui, đen ngòm, đen nhánh, đen đủi...                                       (Xin xem phụ lục 2 – trang 36)

Biện pháp 5: Rèn viết câu sinh động, gợi tả, gợi cảm, giàu hình ảnh và nhạc điệu:

          Trong phân môn Tập làm văn, tôi rèn cho học sinh cho học sinh kĩ năng viết những câu văn sinh động, gợi tả, gợi cảm, giàu hình ảnh và nhạc điệu:

Từ cách dẫn dắt, gợi mở của giáo viên và từ một ý cho trước hay từ một câu đơn (chỉ có một cụm chủ ngữ, vị ngữ), giáo viên hướng dẫn học sinh tập mở rộng câu bằng cách thêm các thành phần phụ cho câu như: trạng ngữ, bổ ngữ, động từ, tính từ, từ láy, từ tượng hình, từ tượng thanh,… Sử dụng các hình ảnh, chi tiết sinh động biểu cảm; các biện pháp nghệ thuật như: nhân hoá, so sánh, điệp từ, điệp ngữ, hoán dụ, phóng đại,… làm cho cách diễn đạt câu văn, đoạn văn, thêm cụ thể, sống động giúp người đọc như cùng cảm nhận với mình.

Yêu cầu rèn luyện kĩ năng này có thể thực hiện ở các tiết học luyện từ và câu hoặc tiết trả bài tập làm văn. Bài tập luyện viết câu sẽ giúp học sinh có ý thức viết văn ngày càng chặt chẽ về ý tứ, sinh động, giàu xúc cảm,…từ đó giúp các em thêm hứng thú học tập môn tiếng Việt nói chung và phân môn tập làm văn nói riêng. Sau đây là một số ví dụ (bài tập) về cách dùng từ, viết câu văn sinh động mà tôi thường xuyên hướng dẫn các em thực hiện:

*Bài tập 1: Từ những câu văn đã cho, viết lại cho sinh động, gợi cảm xúc bằng cách thêm biện pháp nghệ thuật:

- Bông hoa hồng xinh đẹp.

+ Bông hoa hồng xinh đẹp đang tươi cười và thì thầm toả hương thơm. (Biện pháp nhân hoá).

- Các em học sinh quần áo đủ màu sắc sặc sỡ đang nô đùa trên sân trường.

+ Các em học sinh quần áo đủ màu sắc sặc sỡ đang nô đùa trên sân trường tựa như một đàn bướm xinh tung tăng bay lượn. (Biện pháp so sánh).

- Tôi yêu những người dân đi biển làng tôi, mặt biển trong xanh dậy sóng và những con thuyền rẽ sóng ra khơi.

+ Tôi yêu những người dân đi biển làng tôi, yêu mặt biển trong xanh dậy sóng và yêu những con thuyền rẽ sóng ra khơi. (Biện pháp điệp từ).

- Xa xa, những cánh buồm nhấp nhô trên sông, mấy người dân chài thấp thoáng, vài cánh chim chiều tản mạn bay về tổ.

+ Xa xa, nhấp nhô những cánh buồm trên sông, thấp thoáng mấy người dân chài, tản mạn vài cánh chim chiều bay về tổ. (Biện pháp đảo ngữ).

- Hai bên đường vàng rực hoa cúc.

+ Vàng rực hai bên đường là những thảm hoa cúc. (Biện pháp đảo ngữ).

* Bài tập 2: Điền thêm từ thích hợp vào chỗ dấu chấm chấm để tạo thành những câu văn gợi tả, gợi cảm:

- Cổng trường… chúng em vào lớp.

+ Cổng trường đang dang rộng vòng tay đón chúng em vào lớp. (Biện pháp nhân hoá).

- Chú mèo mướp có đôi mắt tròn đen…

+ Chú mèo mướp có đôi mắt tròn đen như hai hạt nhãn, bộ râu rung rung trắng như cước. (Biện pháp so sánh).

* Bài tập 3: Diễn đạt lại những câu văn sau đây bằng cách thêm các từ ngữ, các biện pháp nghệ thuật cho sinh động, gợi cảm.

- Đôi cánh gà mẹ xoè ra rất rộng.

+ Đôi cánh gà mẹ xoè ra rất rộng như một chiếc ô vững chãi che chở cho đàn con khỏi mưa.

- Chiếc bảng đen xinh xắn.

+ Chiếc bảng đen xinh xắn, mỗi khi chúng em lau, cậu ta nhoè nhoẹt  nước mắt nhưng học hành lại rất chăm chỉ.

- Nụ hoa nở.

+ Nụ hoa chúm chím nở như hớp từng giọt sương.

- Những cánh hoa đung đưa.

+ Những cánh hoa nhỏ xíu đung đưa trong làn gió sớm.

Ngoài cách viết câu, dùng từ, ngữ nêu trên; trong giảng dạy giáo viên cần hướng dẫn học sinh chú ý đến các đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt là đa dạng về kiểu loại (từ đơn, từ ghép, từ láy), phong phú về ý nghĩa (từ một nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa,…), linh hoạt về cách sử dụng (từ dùng trong sinh hoạt, trong sách vở khoa học, từ địa phương, từ nghề nghiệp,…).

Biện pháp 6: Học tập văn mẫu, lập mạng từ chốt - áp dụng vào thực hành viết văn:

Các bài văn mẫu không những phong phú, đa dạng trong cách mở bài, thân bài, kết bài mà còn giúp cho học sinh mở rộng, phát triển thêm rất nhiều các kĩ năng dùng từ đặt câu, xây dựng đoạn văn, sử dụng từ ngữ gợi hình, gợi tả, trau chuốt hành văn,...

Trước khi tôi nhận lớp 5 này, đa số phụ huynh đã mua cho con mình tất cả các sách vở, kể cả sách nâng cao Toán và tiếng Việt. Trong số 32 học sinh trong lớp, có đến 27 em có sách Toán và Tiếng Việt nâng cao. Có thể nói đó là một thực tế không ngăn cấm được ở địa bàn Trường TH Số 1 Duy Phước.

Lê-nin đã từng dạy : “Không có sách thì không có tri thức...”, tôi thấy các sách nâng cao Tiếng Việt do các chuyên gia của Bộ Giáo dục biên soạn và nhà xuất bản Giáo dục phát hành có nội dung rất tốt, nó có thể giúp giáo viên giảm thuyết giảng, nó là phương tiện để giáo viên tổ chức hoạt động tự học cho học sinh. Hàng chục bộ sách nâng cao đã được phụ huynh mua cho học sinh, nếu GV biết sử dụng đúng cách thì nó sẽ có ích cho việc dạy học rất nhiều.

 Vì vậy, trước khi làm một đề văn, tôi cho học sinh đọc nhiều lần bài văn mẫu làm ngữ liệu có ngay trong sách giáo khoa để học được ý tưởng của tác giả, sau đó chọn khoảng 25 – 30 từ mà em cho là hay ghi ra nháp. (Tôi lưu ý HS nên chọn viết ra các từ láy, từ gợi tả, gợi cảm mà em thích). Để phát triển kĩ năng viết văn cho học sinh, tôi yêu cầu các em nhìn mạng từ chốt để tự viết câu, đoạn văn, bài văn có chứa các từ em cho là hay. Khuyến khích học sinh tự diễn đạt theo ý mình chứ không nhìn văn mẫu mà viết lại, nhất là tuyệt đối không bắt học sinh học thuộc văn mẫu. Ví dụ:

- Ngày 18/9/2012, trong tiết 1 tuần 4, khi dạy Tập làm văn bài “Luyện tập tả cảnh”, sau khi học chung phần lý thuyết, tôi yêu cầu học sinh: “Đọc bài văn “Tả một em bé đang tuổi tập đi, tập nói” và viết ra nháp khoảng 25 – 30 từ em cho là hay.”

Bài văn mẫu ở sách Những bài văn hay lớp 5 như sau:

“Các cụ ta có câu “Ba tháng biết lẩy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi”, cháu Tễu của em cũng đang tuổi tập đi tập nói.

Bé Tễu mới tròn một năm, trông Tễu thật là xinh và bụ bẫm. Mỗi khi Tễu cười thì nhô bốn cái răng trắng tinh. Những sợi tóc mềm mại như sợi tơ tằm được cắt tỉa gọn gàng. Đôi mắt Tễu tròn, đen lay láy ẩn dưới đôi lông mày hình trăng khuyết đen nhạt. Một hôm em sang chơi, bé Tễu cười tít mắt đi đến chỗ em vẫy đôi tay lũn cũn dễ thương. Tễu rất ngoan, ai bảo gì Tễu cũng nghe theo và làm đúng cái nấy, nếu có ai gọi thì Tễu lại: “d...ạ”, ai bảo Tễu gọi bà thì Tễu gọi: “b...à...ơ...i” ngọng líu ngọng lô. Tễu ngoan nhưng cũng có nhiều tật xấu, nào là cắn, làm nũng, ngửa cổ ăn vạ, lúc thì đòi đi chơi, lúc thì đòi bế nhưng không có ai bế Tễu cả, rồi Tễu khóc được một lúc lại ngừng và lấy đồ chơi ra “xếp xếp” “sắp sắp”. Bé Tễu rất thích đi, cứ thả xuống là cắm đầu cắm cổ chạy, ngã huỵch thì Tễu lại đứng dậy và đi tiếp. Tễu không bao giờ quậy phá linh tinh và không nghịch dại làm chết người.

Em rất quý bé Tễu vì bé luôn đem lại những tiếng cười sảng khoái về hành động, lời nói và Tễu không nghịch dại.”

          Em Lan viết mạng từ chốt rút ra từ bài văn trên như sau:

“Ba tháng biết lẩy,...”, bụ bẫm, nhô răng trắng tinh, tóc mềm mại, đen lay láy, cười tít mắt, ngọng líu ngọng lô, ngoan nhưng có nhiều tật xấu, đòi đi chơi, cắm đầu cắm cổ, ngã huỵch, không quậy phá linh tinh, tiếng cười sảng khoái.”

          Nhìn mạng từ chốt, em Lan ở lớp tôi tự viết thành bài văn sau:

“Ông bà ta thường nói: “Ba tháng biết lẩy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi”, bé Cún con của chú Nam hàng xóm của em đang ở tuổi tập đi tập nói.

Cún vừa được một tuổi, bé thật bụ bẫm đáng yêu. Bốn cái răng trắng tinh nhô ra mỗi khi Cún cười. Mái tóc mềm mại như tơ được cắt tỉa gọn gàng ôm lấy khuôn mặt bầu bĩnh của bé. Đôi mắt Cún tròn, đen lay láy và hàng mi dài uốn cong một cách tự nhiên. Mỗi khi em sang chơi, bé Cún cười tít mắt rồi vẫy vẫy đôi tay lũn cũn dễ thương. Cún ngoan lắm, thường bắt chước làm theo. Nếu có ai gọi thì bé: “D..ạ” rất lễ phép, còn nếu ai bảo Cún gọi bà thì Cún gọi: “b...à...ơ...i” ngọng líu ngọng lô. Cún ngoan nhưng cũng có nhiều tật xấu, nào là cắn, làm nũng, ngửa cổ ăn vạ, lúc thì đòi đi chơi, lúc lại đòi mẹ bế. Khóc một lúc là Cún lại lấy đồ chơi ra “sắp sắp” “xếp xếp” trên nền nhà. Khi tập đi, bé rất thích, cứ cắm đầu cắm cổ mà chạy, ngã huỵch thì Cún lại đứng dậy và đi tiếp. Cún không bao giờ quậy phá linh tinh và không nghịch dại nguy hiểm.

Em rất quý bé Cún vì bé luôn đem lại những tiếng cười sảng khoái cho mọi người.”

Cũng với bài văn trên, mạng từ chốt của em Nam như sau:

“xinh - tập nói -  tập đi - mắt đen láy - gọn gàng - khuôn mặt bầu bĩnh - ngoan nhưng hay làm nũng - đòi mẹ bế - thích tập đi - cắm đầu cắm cổ - té ngã - đứng dậy và đi tiếp - không bao giờ quậy phá - bảo – quý bé.”  

Dựa vào mạng từ chốt của mình, em Nam viết thành bài văn:

“Dì của em có một bé trai rất xinh tên là Hoàng Huy. Bé Huy đang ở tuổi tập nói và đã biết đi tập tễnh. Em không có em ruột nên rất thích bé.

Mắt bé tròn to, đen lay láy như hai hòn bi ve. Những sợi tóc mềm mại như sợi tơ tằm được cắt tỉa gọn gàng. Khuôn mặt bầu bĩnh với làn da trắng hồng mịn màng. Những khi em đi học về, Huy vừa cười tít mắt vừa chạy ào tới đón lấy chiếc kẹo kim từ tay em. Bé rất thích chơi trò bán bánh. Bánh làm bằng đất in trong chén nhựa, đặt vào mấy lá mận rụng trong sân nhà. Bé Huy rất ngoan nhưng hay làm nũng, hay đòi mẹ bế đi chơi. Bé rất thích tập đi, khi được thả xuống đất, bé cứ cắm đầu cắm cổ mà chạy. Bị té ngã, bé lại đứng dậy và đi tiếp. Khi lẫm chẫm đến gần em, bé ào đến trong vòng tay em cười ré lên một cách thích thú. Tính nghịch ngợm nhưng Huy không bao giờ quậy phá lung tung. Dì bảoHuy nói tiếng “cha, cha” thì Huy lại nói tiếng “a, a”. Vài ngày sau, dì dạy Huy tiếng “bà” Huy lại nói là “cha, cha” làm ai cũng phì cười.

Em quý bé Huy như em ruột của mình. Hôm nào bé đi đâu vắng, em nhắc tên Huy không ngớt làm cha mẹ cũng nhớ theo.”

 - Ngày 21/9/2012, trong tiết 2 tuần 4, khi dạy Tập làm văn bài “Tả cảnh (bài viết)”, sau khi cho học sinh đọc đề , tôi yêu cầu học sinh: “Đọc bài văn “Tả cơn mưa” và viết ra nháp khoảng 25 – 30 từ em cho là hay.”

Bài văn mẫu:

“Nhìn lũ chuồn chuồn bay là là mặt ao, tôi thầm nghĩ, chắc trời sắp mưa rồi.

Không có lấy một ngọn gió, cây cối đứng im lìm trong bầu không khí ngột ngạt. Trời không xanh mà âm u với những đám mây xám nhạt giăng kín nền trời.

Thế rồi, những cơn gió bất chợt nổi lên. Gió điên cuộng vặt những đám lá cuốn lên cao rồi vứt tung tóe. Bụi bặm cũng bị gió cuộn tung mù mịt. Sấm ầm ì phía xa và mây đen ùn ùn kéo tới. Những đám mây nặng nề như muốn vỡ tan ngay.

Lũ gà nháo nhác tìm nơi trú mưa. Gà mẹ rối rít chạy vào chái bếp, miệng tục tục không ngớt gọi lũ con. Kiến lũ lượt leo thành hàng lên tường bếp. Mọi người cũng vội vã thu dọn những dây quần áo phơi ngoài sân.

Mưa. Bắt đầu là những sợi mưa thưa thớt với những giọt mưa to tướng. Chúng rớt lộp độp, lộp độp trên những tàu lá chuối, rơi thành những vòng sóng trên mặt ao và những giọt rơi xuống đất liền bị mặt đất hút lấy không còn dấu vết. Chỉ một lát sau, mưa sầm sập trút xuống. Không còn trông rõ cái gì bởi một màn mưa dày đặc, trắng xóa bao trùm lên mọi vật. Thỉnh thoảng, một tia chớp sáng lóe lên. Tiếng sấm nổ ầm ầm. Cây cối trong vườn vặn vẹo trong mưa gió.

Mưa ngớt dần rồi tạnh. Bầu trời sáng và xanh như được một bàn tay thần kì quét lên một lớp sơn mới. Cầu vồng hiện ra, cong cong, lóng lánh bảy sắc màu. Cây cối sạch bụi đang hào hứng vươn mình đón lấy những tia nắng ấm áp, tinh khôi. Ao đầy nước, bè rau muống xanh non mơn mởn những


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Thị Xuân Hạnh @ 15:24 21/10/2013
Số lượt xem: 1650
Số lượt thích: 1 người (Trần Thị Thoại)
No_avatar

chẳng hiểu gì cảLa hétLè lưỡiCau mày

 
Gửi ý kiến

Chào mừng quý vị đến với website của trường Tiểu Học Số I Duy Phước

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

Đọc tin mới

TRUYỆN CƯỜI (^_^)